Labels

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016

Cha con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh ( 1885 - 1958 ) tên khai sinh là Hồ Văn Trung , quê ở làng Bình Thành nay là xã Thành Công, tỉnh Tiền Giang. Ông là một nhà Nho, một nhà văn có nhiều đóng góp lớn lao cho nền văn học của Việt  Nam. Hồ Biểu Chánh là một tác giả có những sáng tác đều đặn, cần mẫn chăm chỉ trong nhiều lĩnh vực như khảo cứu, phê bình, làm thơ,..., nhưng nổi tiếng hơn cả trong lĩnh vực tiểu thuyết và ông được xem là một trong số ít những người tiên phong đặt nền móng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ông đã để lại 64 cuốn tiểu thuyết đậm đặc dấu ấn cuộc sống và tính cách con người Nam Bộ. " Cha con nghĩa nặng " là tác phẩm thứ 15 của Hồ Biểu Chánh, xuất bản năm 1929. Nhân vật chính trong tác phẩm là Trần Văn Sửu, một người nông dân hiền lành nhưng cuộc sống có nhiều trắc trở. Đoạn trích trong sách kể lại sự việc hai cha con Trần Văn Sửu gặp nhau trên cầu Mê Tức, sau khi Sửu lẻng về thăm con.
Câu chuyện đã kể về cha con của Trần Văn Sửu một người cha nặng ân tình với con, ông đã lẻn về thăm con với mục đích là mong chúng tha thứ nhưng ông trở về đúng lúc hai con của mình sắp lấy vợ lấy chồng. Trần Văn Sửu đã chấp nhận ra đi lặng lẽ, không gặp mặt hai con. Khi ra đi ông đã rất đau khổ, ông đã định tự vẫn. Ngồi trên cầu với tâm trạng "sầu não", ông yên tâm vì các con đã hiểu và không trách mình, mừng vì các con đã được sống hạnh phúc sung sướng. Ông nhớ lại những ngày hạnh phúc và cả khổ đau đã qua. Nhà văn đã dùng hình thức độc thoại nội tâm để thể hiện tâm trạng nhân vật. Đây là một biểu hiện của tính chất hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.
Còn Tí con ông là người con hiếu thảo, sau khi nghe được cuộc trò chuyện giữa ông ngoại và cha, anh liền chạy theo cha để giữ cha lại. Tí hiểu những khổ cực, thiệt thòi mà người cha đã phải chịu đựng. Khi Tí đuổi theo cha, ông tưởng người làng đuổi bắt nên cố chạy thật nhanh còn Tí thì cố đuổi  theo cha. Đến cầu Mê Tức thì hai cha con mới gặp nhau khi Trần Văn Sửu đang định tự vẫn để chấm dứt những ngày khổ cực. Hai cha con gặp nhau vô cùng mừng rỡ. Nhà văn đã thể hiện rất xúc động tình cảm cha con khi xây dựng cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động giữa họ.
Gặp cha, Tí " chạy riết lại nắm tay cha ", " dòm sát mặt ", " ôm cứng trong lòng ". Tí quyết không để cha đi, anh quyết định theo cha để chăm sóc cho cha " cha đi thì con đi theo ", "đi theo đặng làm mà nuôi cha " ,... Cuộc nói chuyện giữa hai cha con đã thể hiện được tình nghĩa cha con xúc động. Tấm lòng cao cả, tình yêu vô bờ, đức hy sinh của người cha và lòng hiếu thảo của người con, Hồ Biểu Chánh là nhà văn có mục đích sáng tác rất rõ ràng, sáng tác để giáo dục đạo đức. Hai cha con Trần Văn Sửu là hai trong số những nhân vật  thể hiện rõ tư tưởng đạo đức truyền thống theo quan niệm của nhà văn.
Tác giả đã kể lại câu chuyện theo một trình tự thời gian nó tạo nên những cảm xúc sâu lắng trong con người của tác giả, cách kể truyện hấp dẫn cùng với cách sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, hấp dẫn đã tạo nên một phong cách mới mẻ cho tác phẩm này.
Trần Văn Sửu và thằng Tí là những người chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, lam lũng quanh năm, lại mù chữ thế mà cách sống, cách ứng xử của hai cha con thật đẹp. Trước bi kịch gia đình, tình cha con vẫn sắc son, sâu nặng. Đặc biệt thằng Tí là một đứa con hiếu thảo, hiếu thuận và hiếu nghĩa. Hai cha con Trần Văn Sửu là hiện thân bao phẩm chất tốt đẹp của người nông dân miền Nam nước ta xưa nay.
" Cha con nghĩa nặng " là bài ca đạo lí. Ngòi bút của Hồ Biểu Chánh chứa chan vị đời và tình người vẫn sáng ngời theo thời gian.

Hạnh Phúc Một Tang Gia

Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng (1912-1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hảo, tỉnh Hưng Yên nhưng ông lớn lên và mất tại Hà Nội, sinh ra trong một gia đình nghèo. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, Vũ Trọng Phụng đi làm kiếm sống nhưng chẳng bao lâu thì bị mất việc. Từ đó ông sống chật vật, bấp bênh bằng nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp. Là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuy thời gian cầm bút rất ngắn với tác phẩm đầu tiên là truyện ngắn Chống nạng lên đường, không đầy mười năm viết văn ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ đáng khinh ngạc, tiêu biểu là Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), tiểu thuyết Lấy nhau vì tình (1937),Trúng số độc đắc (1938).Từ năm 1936, ngòi bút viết văn của ông bắt đầu nở rộ, trong vòng một năm ông đã sáng tác liên tiếp bốn cuốn tiểu thuyết và lần lượt xuất bản trên các mặt báo, thu hút đông đảo sự chú ý của công chúng. Các tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê đều thể hiện các vấn đề xã hội. Trong đó cuốn tiểu thuyết Số đỏ là nổi bật hơn cả và được xem như tác phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng. Ông nổi tiếng là với giọng văn trào phúng và châm biếm xã hội của mình, bằng tài năng to lớn cũng như phong cách nghệ thuật sáng tác độc đáo của ông, đã toát lên được niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tối, thối nát đương thời. Có thể nói Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển văn xuôi Việt Nam hiện đại. Tiểu Thuyết Số đỏ là cuốn tiểu thuyết đầy sinh động, nhân vật chính của Số đỏ tên Xuân, thường được gọi là Xuân Tóc Đỏ, tiểu thuyết được đăng ở báo Hà Nội ngày 7.10.1936 và in ra thành sách năm 1938. Trong đó đoạn trích "Hạnh phúc của một tang gia" (thuộc chương XV của tác phẩm "Số đỏ") là đoạn trính tiêu biểu cho nghệ thuật trào phúng sắc sảo của Vũ Trọng Phụng.


Nghệ thuật trào phúng được thể hiện ngay từ đầu, ngay từ nhan đề đã tạo sự đối lập, dự báo một màn bi hài sắp diễn ra với nhiều cảnh nghịch lý. Tại sao lại "Hạnh phúc của một tang gia"?  "Hạnh phúc" là sự vui sướng, thoã mãn của con người khi được đáp ứng một nhu cầu nào đó trong cuộc sống, còn "tang gia" là gia đình có tang, mất một người thân, thể hiện sự u tối, buồn bã, ãm đạm. Hai trạng thái này hoàn toàn trái ngược nhau nhưng tác giả đã gọp chúng lại để trở thành một nhan đề nghịch lý làm cho người vừa mới đọc đã có cảm giác tò mò, khó hiểu. 


Phần nhan đề cũng phần nào thể hiện được nội dung của đoạn trích là cái chết của cụ Tổ đã đem lại cho cả gia đình một niềm hạnh phúc, sung sướng, thoã mãn được sự mong muốn vì khi ông cụ Tổ chết đi thì có thế mới chia gia tài được. 
Trong cảnh đám tang đáng nhẽ đau buồn như thế này, mà mỗi người trong gia đình này họ đều có cái hạnh phúc, vui sướng riêng của họ, ông Phán mộc sừng thì vui sướng vì sẽ kiếm thêm được vài đồng nhờ giá trị của cặp sừng hươu trên đầu. Cụ cố Hồng hạnh phúc đến nổi nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ được mặc một bộ đồ xô gai tân thời để được người ta khen ngợi là con đã già mà lại có hiếu, ông Văn Minh thì thầm kín sung sướng vì cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là cái lý thuyết viễn vong nữa, và ông sẽ được chia một tài sản lớn. Với phong cách nghệ thuật độc đáo, sắc sảo tác giả đã lật tẩy một xã hội nhố nhăng, lột bộ mặt thật của những người nâng cao giá trị hình thức mà không có chút tình người, bên ngoài thì có vẻ sang trọng "âu hoá", "văn minh", "tiến bộ" nhưng bên trong thực chất là cặn bã, đạo đức giả. 

Mâu thuẫn trào phúng không chỉ được thể hiện ở gia đình, ngoài gia đình và mọi người xung quanh mà còn được thể hiện ở nghệ thuật xây dựng cảnh đám tang.
Đám tang thì tổ chức trịnh trọng mà đúng nghĩa là những người giàu có trong xã hội tân thời. Người ta thì vui vẽ đưa giấy cáo phó, đám ma mà có cả kiệu bát cống, lợn quay đi lọng có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Cái chết của cụ Cố không chỉ làm vui sướng những người trong nhà mà còn làm cho bạn bè và những người bên ngoài cũng được dịp hưởng ké, đi tới đâu thì phố phường tưng bừng huyên náo tới đó, bọn con cháu thì vô tâm thản nhiên cười đùa thoả thích. Dù đám tang được tổ chức rất trịnh trọng, rất đông nhưng tấc cả những người đi đưa họ đều không chút quan tâm đến người chết, người thì lo trò chuyện với vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may, rồi còn cười giỡn chọc ghẹo nhau. Đến nổi tác giả cảm thấy đau lòng mà thể hiện câu nói "Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu...! câu nói này của tác giả nhằm ý chăm biếm, tố cáo mạnh mẽ cái bộ mặt bên ngoài thì tỏ vẻ sang trọng nhưng trong thì mất hết tình người. Trong lúc Typn và vợ, bà phó Đoan và ông joseph Thiết và mấy người nữa đang lào xào, thì Xuân bỗng xuất hiện làm đám tang đang đi phải ngừng lại. Cùng với Xuân là hai vòng hoa đồ sộ, hành động của Xuân không những không bị trách mắng mà thay lại còn làm cho bà cố Hồng "hớt hải chạy lên, rồi cảm động hết sức nói"," ấy giá mà không có món ấy thì thiếu to may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi". Cùng với sự xuất hiện của Xuân thì "sư cụ Tăng Phú thì sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe" rồi kể lể chắc ai cũng biết rằng sư vụ đã đánh đổ được hội phật giáo. Vậy là đám tang cứ thế mà đi. Qua hai cảnh tượng ấy càng làm rõ được sự mâu thuẫn giữa bản chất và hình thức. 

Cuối cùng thì đã tới lúc chôn cất. Có lẽ đây là cảnh mà để cậu Tú Tân thể hiện cái tài lẽ của mình. "Lúc hạ quan tài cậu Tú Tân lộm khộm trong chiếc áo thụng trắng đã bắt bẽ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc công lưng hoặc lau nước mắt như thế này thế nọ". không giây phút nào buồn hơn khi lúc người nhà mình chôn cất, vậy mà cậu Tú Tân còn chụp hình kỉ niệm. Khi Xuân muốn bò quách ra ngoài thì chợt thấy ông Phán mọc sừng bỏ vào tay mình một giấy bạc năm đồng gấp tư.

Bằng ngôn ngữ châm biếm sâu sắc của Vũ Trọng Phụng đã làm nổi bật được nghệ thuật trào phúng. Tác giả đã lột tả được bộ mặt của các nhân vật trong đoạn trính. Đoạn trích "Hạnh phúc một tang gia" phê phán thẳng thừng xã hôi thượng lưu thối nát ngày xưa. Đồng thời còn tạo ra nhiều tình huống gây cười, làm cho đoạn trính thêm sinh động. 

Đồng chí

Quê hương anh nước mặn đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sòi đá 
Anh với tôi vốn người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. 
Súng bên súng, đầu sát bên đầu 
Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỷ 
Đồng chí! 
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay 
Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính. 
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, 
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. 
Áo anh rách vai 
Quần tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày 
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! 
Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới 
Đầu súng trăng treo.

Viếng lăng Bác

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác 
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát 
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam 
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng. 

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng 
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ 
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ 
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. 

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên 
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền 
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi 
Mà sao nghe nhói ở trong tim. 

Mai về miền Nam thương trào nước mắt 
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác 
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây 
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này...

Sang thu

                                                  Bỗng nhận ra hương ổi
                                                  Phả vào trong gió se
                                                  Sương chùng chình qua ngõ
                                                  Hình như thu đã về

                                                  Sông được lúc dềnh dàng
                                                  Chim bắt đầu vội vã
                                                  Có đám mây mùa hạ
                                                  Vắt nửa mình sang thu

                                                  Vẫn còn bao nhiêu nắng
                                                  Đã vơi dần cơn mưa
                                                  Sấm cũng bớt bất ngờ
                                                  Trên hàng cây đứng tuổi
                                                                         (Hữu Thỉnh)

Mùa xuân nho nhỏ

Mọc giữa dòng sông xanh 
Một bông hoa tím biếc 
Ơi con chim chiền chiện 
Hót chi mà vang trời 
Từng giọt long lanh rơi 
Tôi đưa tay tôi hứng. 

Mùa xuân người cầm súng 
Lộc giắt đầy quanh lưng 
Mùa xuân người ra đồng 
Lộc trải dài nương mạ 
Tất cả như hối hả 
Tất cả như xôn xao 

Ðất nước bốn nghìn năm 
Vất vả và gian lao 
Ðất nước như vì sao 
Cứ đi lên phía trước. 

Ta làm con chim hót 
Ta làm một cành hoa 
Ta nhập vào hoà ca 
Một nốt trầm xao xuyến. 

Một mùa xuân nho nhỏ 
Lặng lẽ dâng cho đời 
Dù là tuổi hai mươi 
Dù là khi tóc bạc. 

Mùa xuân ta xin hát 
Câu Nam ai, Nam bình 
Nước non ngàn dặm mình 
Nước non ngàn dặm tình 
Nhịp phách tiền đất Huế...

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Chí Phèo - Nam Cao

Nam Cao ( 1917 - 1951 ) là một trong những cây bút viết truyện ngắn rất thành công của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì trước cách mạng. "Chí Phèo" là tác phẩm thành công của Nam Cao viết về đề tài người nông dân. Nhân vật Chí Phèo thể hiện được tấn bi kịch tinh thần lớn nhất của con người, đó là bi kịch bị tha hóa. Những thế lực tàn bạo đã tước đoạt của người nông dân chất phát hiền lành những khát vọng và ước mơ về một cuộc sống lương thiện , biến họ thành kẻ lưu manh. Và khi lương tâm thức tỉnh, họ đã phải tự kết thúc đời mình khi nhận ra rằng mình đã không còn đường để trở về với cuộc sống lương thiện. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm được tập trung ở nhân vật Chí Phèo. Tác phẩm phản ánh hai mâu thuẫn gay gắt và tiêu biểu nhất trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhau và mâu thuẫn giữa bọn cường hào ác bá với người nông dân. Các nhân vật đều đạt đến trình độ điển hình.
Tác phẩm được mở đầu bằng tiếng chửi với nội dung có vẻ bất thường nhưng rất tỉnh táo đã tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện. Đây cũng là một thủ pháp nghệ thuật trong cách viết của Nam Cao. Nhà văn đã để nhân vật xuất hiện trong tâm trạng điển hình nhất. Vừa gây sự tò mò cho người đọc, vừa làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm.
Nội dung của lời chửi có lớp lang, chứng tỏ người chửi vẫn đang rất có ý thức về việc làm của mình. Chửi từ đối tượng lớn nhất, trúng nhất và trừu tượng nhất " trời, đời, cả làng Vũ Đại" đến cụ thể nhất, xác định rõ nhất " đứa nào không chửi nhau với hắn, đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn". Tiếng chửi thể hiện sự bức bối, tâm trạng đầy bi kịch của Chí Phèo. Hắn cất tiếng chửi để người ta đáp lại mình nhưng không ai đáp cả, bởi họ không chấp hoặc không muốn dây dưa với một thằng say rượu, một kẻ lưu manh, một thằng cố cùng liều thân như hắn. Tiếng chửi là khao khát được giao tiếp với con người dù là hình thức giao tiếp hạ đẳng nhất nhưng không được đáp lại. Không có ai đáp lại lời nên hắn càng uất ức. Lời chửi vừa thể hiện được đỉnh cao tấn bi kịch cô đơn, bị từ chối quyền làm người của hắn vừa dẫn dắt câu chuyện đến tình huống giới thiệu hoàn cảnh xuất thân và số phận bất hạnh của Chí Phèo.
Mối quan hệ Chí Phèo - Bá Kiến thể hiện quá trình bị tha hóa của Chí Phèo. Từ anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành hắn bị Bá Kiến đẩy vào tù và khi trở về thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Từ khi trở về, cuộc sống của hắn cũng hoàn toàn thay đổi, hắn lấy nghề rạch mặt, đâm thuê chém mướn làm nghề sống. Chí Phèo bị người đời xa lánh, hắn trở về làm cho Bá Kiến. Lại một lần nữa, người đọc thấy được sự bế tắc, bước đường cùng của Chí Phèo. Hắn lại trở về nơi ngày xưa đã đẩy hắn vào cơ cực như bây giờ. Có lẽ đây là sự bế tắc của người dân thấp cổ bé họng trong xã hội phong kiến.
Nam Cao đã rất thành công khi xây dựng được hình tượng nhân vật Chí Phèo. Với hình tượng nhân vật ấy, Nam Cao đã phản ánh chân thực và sinh động bi kịch hủy diệt tâm hồn và nhân phẩm của người nông dân nghèo khổ. Sự tha hóa của Chí Phèo một mặt tố cáo sự tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến đã không cho con người được làm người, mặt khác thể hiện giá trị nhân đạo mới mẻ của nhà văn trong cách nhìn nhận số phận của người nông dân trước Cách mạng.
Nam Cao đã không để cuộc đời của Chí Phèo dừng lại ở đó. Tác giả đã khơi gợi sự thèm khát yêu thương, thèm khát cuộc sống như một con người từ hắn. Tình huống truyện Chí Phèo gặp Thị Nở lần hắn uống rượu say khướt. Thị Nở xuất hiện với một bát cháo hành đã khiến người đọc vẫn cảm thấy còn chút gì đó hy vọng cho một cuộc đời bình dị. Thị Nở xấu xí, thô kệch nhưng lại là vết sáng trong cuộc đời tăm tối của Chí Phèo. Sự xuất hiện của Thị Nở có ý nghĩa rất lớn đối với Chí Phèo và đã đánh thức được bản chất lương thiện vốn có trong hắn. Nó cũng chứng minh rằng những bản chất tốt đẹp của người lao động trong con người hắn không thể bị hủy diệt mà nó chỉ bị khuất lấp đi đằng sau cái vẻ bất cần đời của một con người bị xã hội xa lánh, dồn vào bước đường cùng mà thôi. " Bát cháo hành" là một  chi tiết nghệ thuật giàu giá trị nhân văn, cho tình người còn lấp lánh giữa cái xã hội thối nát.

Sau cuộc gặp gỡ, Chí Phèo bị ốm được Thị Nở chăm sóc. Lần đầu tiên, từ những ngày ở tù về, Chí  Phèo cảm thấy mình hoàn toàn tỉnh táo và lần đầu tiên sau những cơn say triền miên, kể từ ngày ở tù về hắn nghe được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống đời thường. Và khao khát được trở thành người lương thiện trỗi dậy trong con người hắn. Hắn bắt đầu nghĩ về đời mình về những ngày đã qua và những ngày sắp tới. Chí Phèo cảm nhận rõ sự cô độc và bất hạnh của đời mình và hắn mong ngóng Thị Nở, khao khát được cùng Thị xây dựng một gia đình. " Bát cháo hành " đã đánh thức được phần người tốt đẹp trong Chí Phào. Hắn ngạc nhiên rồi cảm động " thấy mắt hình như ươn ướt ", rồi bâng khuâng, vui buồn lẫn lộn. Và nhất nhất là hắn cảm thấy ăn năn, hắn háo hức, sốt ruột, cuống cuồng khi thấy Thị Nở về nhà quá lâu. Tâm trạng chờ đợi ấy thể hiện khao khát mãnh liệt được trở về cuộc sống lương thiện của người bình thường. Nhưng tất cả đã sụp đổ với sự trở lại và lời từ chối của Thị Nở.
Nhà văn đã nhập thân vào nhân vật, sử dụng nhiều kiểu giọng điệu trần thuật khác nhau để miêu tả diễn biến nội tâm phức tạp của Chí Phèo. Những giây phút hạnh phúc và đầy hy vọng của hắn rất ngắn ngủi. Vì thành kiến mà bà cô của Thị Nở đã không cho Thị Nở giao du và lấy hắn. Nhà văn đã miêu tả một lần uống rượu đặc biệt nhất trong cuộc đời của Chí Phèo. Chí lại lôi rượu ra uống nhưng càng uống hắn lại càng tỉnh " hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành". Đó là hương vị của tình yêu, của niềm hạnh phúc , niềm hạnh phúc ấy lần đầu tiên được hắn được hưởng nên cho nên nó khó phai mờ trong tâm trí anh. Sự tỉnh táo khiến cho hắn cảm thấy tiếc hạnh phúc mà mình đã có và nhận ra sự thực cay đắng, chua chát trong lời bà cô Thị Nở. Phản ứng của bà cô Thị Nở là đại diện cho những định kiến xã hội đối với những con người đã vô tình hay cố ý gây ra lỗi lầm. Chí Phèo đã bị lưu manh hóa và xã hội lương thiện đã không thể chấp nhận hắn.
Khi xách dao đến giết Bá Kiến và tự sát chứng tỏ hắn hoàn toàn tỉnh táo. Đây là lời tố cáo quyết liệt của tác giả đối với xã hội có những kẻ cầm quyền như Bá Kiến. Bọn người thâm hiểm, tham lam và tàn độc ấy đã cướp đi của con người hạnh phúc, ước mơ, bản chất lương thiện là tội ác dã man nhất, nó dã man hơn cả tội giết người.
Hình ảnh ám ảnh người đọc là hình ảnh Chí phèo giãy đành đạch, nằm giữa vũng máu ở sân nhà Bá Kiến. Trước khi chết Chí Phèo còn hét lên " ai cho tao làm người lương thiện ", xã hội này không cho, con người cũng không cho. Cái chết của Chí Phèo một lần nữa chỉ ra con đường cùng và kết cục bi thảm của nhân vật. Đúng là một bi kịch quá đau lòng đối với người nông dân trong xã hội đầy rẫy bất công.
Giọng điệu trần thuật có sự kết hợp hài hòa giữa đối thoại với độc thoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa tiếp. Vì vậy, nhiều đoạn có sự lồng ghép giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật. Ví dụ: đoạn kể về tiếng chửi của Chí Phèo, đoạn tả tâm trạng của Chí sau cuộc gặp với Thị Nở và khi bị từ chối,.. Đối thoại giữa Chí với Bá Kiến, Chí với Thị Nở... Giọng điệu trần thuật này là những đóng góp quan trọng của Nam Cao trong quá trình hiện đại hóa của thể loại truyện ngắn hiện đại Việt Nam.
Nếu so sánh hai truyện ngắn " Lão Hạc" và " Chí Phèo" thì cả hai tác phẩm đều khai thác về đề tài số phận người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến. Qua số phận cùng cực của họ, nhà văn đã phản ánh một cách chân thực và sâu sắc xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Giá trị nhân đạo được thể hiện ở sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với bi kịch của người nghèo và phát hiện ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lương thiện trong mỗi nhân vật.
Song ở mỗi tác phẩm thì nhà văn lại có những sáng tạo riêng trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo. Với nhân vật lão Hạc, nhà văn để nhân vật của mình vào một cuộc lựa chọn giữa cái chết và sống. Lão Hạc đã chọn cái chết để giữ được cho con trai mảnh vườn. Lão Hạc là một người nông dân có bản chất lương thiện và tấm lòng nhân hậu.
Chí Phèo khốn cùng hơn lão Hạc nhiều. Hắn bất hạnh từ khi sinh ra cho đến lúc tự chấm dứt cuộc đời mình. Hắn bị tha hóa, lưu manh hóa rồi bị từ chối quyền làm người. Cuộc đời của Chí Phèo là chuỗi bi kịch nhưng dù bị vùi dập tàn nhẫn đến đâu thì bản chất lương thiện trong hắn không hề bị hủy diệt. Cuộc gặp gỡ, bát cháo hành của Thị Nở và những âm thanh trong trẻo của cuộc sống đời thường đã đánh thức bản chất lương thiện trong hắn. Qua tấn bi kịch của Chí Phèo, tác giả đã thể hiện niềm tin và tình yêu thương của mình đối với những người nông dân nghèo.
Nam Cao với ngòi bút  sâu sắc đã xây dựng nhân vật điển hình trong xã hội điển hình như kéo người đọc về với thời kì đau thương của đất nước ta hồi đó. " Chí Phèo " là một kiệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm " Chí phèo " bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.

Mùa lá rụng trong vườn

                      Ma Văn Kháng đã từng nói :"không ai chọn thời đại ,hoàn cảnh sinh ra và sống với nó cả". Ông từng được mệnh danh là người khuấy động văn hoá hiện đại Việt nam, đại biểu tinh anh của văn học. Nhiều tác phẩm đặc sắc vẫn đang miệt mài cống hiến cho sự nghiệp văn chương của ông. Và trong số đó một trong số tác phẩm được sáng tác bằng ngòi bút của ông đã để lại ấn tượng đẹp trong mắt người đọc là "Mùa lá rụng trong vườn". Truyện được lấy bối cảnh xoay quanh gia đình có truyền thống, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh, gây ra những thay đổi tốt có,xấu có. Truyện đã phản ánh hiện thực những biến động trong xã hội lúc bấy giờ.
Kết quả hình ảnh cho mùa lá rụng trong vườn
                        Cốt truyện đa phần xoay quanh nhân vật Hoài, chị là một cô con dâu trong gia đình của ông Bằng. Nhưng chẳng may chồng của chị qua đời, sau một thời gian đau khổ bố mẹ của chị đã cho phép chị "đi thêm bước nữa" Nhưng tâm hồn chị vẫn gắn bó thuỷ chung với gia đình ông Bằng mặc dù chị đã tái giá. Chị về thăm gia đình vào đúng ngày tết, hết mùa lá rụng năm ấy chị như chiếc lá trở về cội nguồn. Chị đem đến cho khu vườn nhà chồng (gia đình ông Bằng)  một tiết tấu bình yên như bù lại cho những gì mà thế giới đã yên tĩnh ấy đã và đang tước đoạt được bồi đắp mới để thích nghi với nhịp điệu gấp gáp của đời sống xã hội.
         Đúng như suy nghĩ của ba nhân vật Đồng, Lí và Luận ;" quan hệ của chị ở gia đình này chỉ còn trong quá khứ" kỉ niệm của chị đẹp nhưng buồn, chị có quyền được quên mà không ai được trách cứ.Nhưng đoạn trích đã cho người đọc đến với nhân vật chi Hoài của hiện tại chứ không không phải là của quá khứ. Thể hiện sự chu đáo .lo toan nghĩa tình vẹn toàn của một người dâu trưởng. Điều đó làm tất cả mọi người trong gia đình ông bằng đều cảm động. Qua cách của Ma Văn Kháng, người đọc cũng bất giác bồi hồi theo tâm hồn nhân hậu, cách sống vị tha trong sáng nghĩa tình, thuỷ chung của người đàn bà đã một thời làm dâu  trưởng.
Kết quả hình ảnh cho mùa lá rụng trong vườn cua ma van kháng
         Có phải chính hình tượng này mà tác giả đã đề cập một điều không được nói ra trong tác phẩm rằng "Thì ra, con người ta có quyền vừa hội nhập với cái mới mà vẫn giữ gìn được những nét tinh tế các hồi ức ngày xưa để lại. Với những hành động trong tác phẩm này ,ta thấy chị rất quan tâm, coi gia đình của chồng cũ như những người thân thích. Đó cũng chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam sống nặng tình , chung thuỷ sắt son.
          Khi mâm cỗ được đưa lên mọi người quầy quầy bên nhau, ông Bằng đứng trước bàn thờ tổ tiên tâm tình với vợ và con trai cũ đã hi sinh. Tuy có những biến cố nhưng tổ tiên không tách rời với con cháu. Tất cả liên kết thành một mạch bền chặt.
                    Tóm lại qua tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" Ma Văn Kháng đã khéo léo xây dựng cốt truyện hợp lí để giúp người đọc cảm nhận được truyền thống gia đình của người Việt Nam. Giúp mọi người ngày càng yêu thêm cái đẹp những cái đẹp trong tâm hồn . Truyện như một thước phim ngắn về một gia đình có truyền thống trọng đạo ân tình , tình nghĩa không bao giờ phai.

Chữ Người Tử Tù

Nguyễn Tuân 

Nguyễn Tuân (1910 - 1987), quê ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông trưởng thành trong một nhà nho khi Hán học đã tàn. Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành Chung Nam Định ( tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay ), sau đó về Hà Nội viết văn và làm báo. Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938, với các tác phẩm tuỳ bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi...
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình đến với cách mạng, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông là Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Nguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, sở trường về tuỳ bút và kí, được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Những tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, phong phú nhiều mặt và vốn ngôn từ, giàu có, điêu luyện.
Một số tác phẩm chính của ông : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng bắt cua (1941)....
Trong đó truyện ngắn Chữ người tử tù là một tác phẩm văn học đặc sắc của Nguyễn Tuân. Tác phẩm lúc đầu tên là Dòng chữ cuối cùng, sau đó được in trong tập Vang bóng một thời và đổi tên là Chữ người tử tù. Tác phẩm này ca ngợi cái đẹp của " thiên lương " và " sự trong sạch của tâm hồn ", tập trung nổi bật nhân vật chính là Huấn Cao.

Truyện khái quát về cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu giữa người tử tù Huân Cao với viên quan coi ngục. Một người là Huấn cao văn võ song toàn nhưng lại là kẻ đứng đầu bọn phản nghịch chờ ngày tử hình , còn một người là viên quan coi ngục thực thi pháp luật đang giam giữ Huấn cao nhưng lại là người có tấm lòng yêu quý cái đẹp. Trên cơ sở xã hội, họ đối lập nhau, nhưng trên cơ sở nghệ thuật, thì họ đều là những người có tâm hồn đồng điệu vì họ cùng yêu quý cái đẹp. Sự gặp gỡ giữa hai con người ấy trong chốn lao tù đã tạo ra tình huống kịch tính cho truyện. Ban đầu Huân Cao khinh bạc nhưng sau khi hiểu ra tấm lòng của viên quan coi ngục, Huấn Cao đã cho chữ. 

Huấn Cao là một tội phạm của triều đình nhưng lại có tài viết chữ "tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp"  của ông nổi tiếng khắp cả vùng tỉnh Sơn. Trong một lần làm nghiệp lớn chống lại triều đình ông bị bắt và chờ ngày tử hình. 
Huấn cao mang vẻ đẹp khí phách. Dù chí lớn không thành nhưng tư thế hiên ngang, bất khuất. Là tên tù nhân chờ ngày xét xử vậy mà Huấn cao vẫn giữ phong thái ung dung, bị dẫn vào huyện ngục nhưng ông không chút run sợ trước ngục tối và những kẻ coi ngục hung bạo.  

Nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng một nhân vật Huấn Cao là một người có thiên lương, có tài viết chữ rất đẹp, tài năng ấy thể hiện qua lời khen của viên quan coi ngục đối thoại với thầy thơ lại. Cũng vì có tài viết chữ đẹp nên quan coi ngục đã từ lâu, " từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, "vuông lắm" cho ta thấy Huấn Cao là một người có khí chất hiên ngang. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ của ông Huấn mà treo là có một "báu vật trên đời", tượng trưng cho cái đẹp, cao quý. Huấn Cao là người coi trọng bằng hữu và trân trọng những người nghèo trong thiên hạ.

 Huấn Cao, kẻ xỉ tài tử, vừa biểu lộ một tấm lòng kính phục, ưu ái đặc biệt, vừa thể hiện một chút tài hoa viết chữ, độc đáo tuyệt vời. Không chỉ cho ta thấy Huấn Cao là người  bất khuất, anh hùng mà trong "Chữ người tử tù" còn hàm chứa một ý tưởng là thương tiết người có tài mà bị hãm hại.

Quan coi ngục là một người có sở thích sở nguyện cao quý. Đó chính là chữ đẹp của Huấn Cao. Biết tin sắp nhận được sáu tên tù án chém, mà trong đó tên đứng đầu là Huấn Cao, người mà ông luôn mến mộ. Quan coi ngục tỏ vẻ nói với thơ lại, "Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm, giả sử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc", lời nói của quan coi ngục cũng cho ta thấy được tấm lòng thiên lương của ông, ông có tầm nhìn xa trong rộng và tâm tưởng thì hoàn toàn thoát khỏi những cám dỗ của vật chất cũng như những bóng tối của ngục tù. Thân làm quan coi ngục nhưng ông không hề hóng hách mà chỉ làm tròn nhiệm vụ của bản thân mình. Khi biết Huấn Cao đến thì ông rất ưu ái cho ông Huấn mục đính là chỉ muốn xin được cái chữ do chính tay ông Huấn viết cho, dẫu biết là một khi bại lộ ra thì ông sẽ mất đầu. Ta có thể cảm nhận được cái đẹp trong ông, trong cái nơi chỉ có đánh đập, trả thù, tra tấn đến dã man ấy mà tâm hồn ông vẫn sáng lấp lánh không bị nhà ngục kia vây đen.

Cánh cửa đề lao mở rộng. Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề đi vào. Trái với phong tục nhận tù mọi ngày. Bọn lính lấy làm lạ khi thấy viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành, nên nhắc lại : " Bẩm thầy, tên ấy chính là thủ xướng. Xin thầy để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn". Viên quan coi ngục ung dung nói " Ta biết rồi " cho qua chuyện. Suốt nữa tháng trong tù , viên quan coi ngục tỏ lòng thành ý, tìm cách để xin được chữ của ông Huấn nên bèn sai thơ lại đêm nào cũng đem rượu thịt đến cho ông. Rồi một hôm quan coi ngục mở khoá buồng kính, khép nép hỏi ông Huấn ngài có cần gì nữa không xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất. Nhưng câu trả lời của ông Huấn chỉ là bảo quan coi ngục đừng đặc chân vào đây. Quan coi ngục lễ phép lui ra và chỉ nói "xin lĩnh ý". Và từ ngày hôm ấy, rượu thịt vẫn đem đến bình thường. Quan coi ngục chỉ mong mỏi một ngày gần đây, ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì mới nhờ ông viết, ông viết cho...cho mấy chữ trên trục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. 
Một buổi chiều nọ, quan coi ngục tái nhợt người đi sau khi đọc công văn về việc xử tử những tên phản loạn, trong đó có Huấn Cao. Sau khi nhận được công văn, viên quản ngục đã tâm sự cho thơ lại nghe. Nghe xong chuyện, thầy thơ lại đã chạy xuống buồng giam của Huấn Cao để kể rõ nỗi lòng của viên quan coi ngục.
                                            Cảnh Huấn Cao cho chữ viên quan coi ngục
Và đêm hôm đó, " một cảnh tượng chưa từng có " đang diễn ra. Điểm đặc biệt ở đây tác giả Nguyễn Tuân diễn tả "một cảnh tượng chưa từng có". Một cảnh tượng cho chữ đáng lẽ phải trong khung cảnh trăng thanh gió mát, có rượu thịt... vậy mà cảnh cho chữ ở đây lại là trong đêm khuya, ngay trong nhà giam tối chật hẹp, ẩm ướt đầy mạng nhện, nền đầy phân chuột phân gián...trái ngược với những thứ tăm tối dơ bẩn đó, một bó đuốt đỏ rực tẩm đầy dầu, khói toả ra như đám cháy nhà đã nổi bật khung cảnh này. Tấm lụa trắng tinh, chậu mực thơm, thật đúng là mô khung cảnh không gian, thời gian mà "xưa nay chưa từng có"  Ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang mài mò từng chữ một. Viết xong, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đở viên quan coi ngục đứng dậy mà khuyên rằng : "Thầy Quản nên thay chốn ở đi, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi thực đấy, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên lương. 

Trước lời khuyên của tử tù, viên quan ngục xuc động " vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẻ miệng nghẹn nghào nói : kẻ mê muội này xin bái lĩnh". Bằng sức mạnh của một nhân cách cao cả và tài năng xuất chúng, người tử tù đã dẫn hướng cho viên quản ngục đến với cuộc sống thiên lương. Nguyễn Tuân đã tạo nên hình tượng Huấn Cao trở nên vô cùng cao cả. Đồng thời cũng thể hiện một niềm tin vững chắc của con người: Trong bất kì hoàn cảnh nào, con người vẫn luôn khao khát hướng tới chân, thiện, mĩ .

Truyện ngắn "Chữ người tử tù" đã thể hiện tài nghệ của Nguyễn Tuân. Cho ta thấy được nhân cách của hai nhân vật Huấn Cao và viên quan coi ngục và hướng tới cái đẹp. Cảnh cho chữ mang đến một kết thúc có hậu .Với những ngôn ngữ cổ kính, trang nghiêm, mang lại cho câu chuyện cái không khí " Một thời vang bóng ".  

Vợ nhặt

Kim Lân là tác giả của nhiều tác phẩm truyện ngắn để đời. Những tác phẩm của Kim Lân thường được viết về nông thôn và những người nông dân chất phác. Sống trong khoảng thời gian những năm 1945, Kim Lân hiểu rõ nỗi khổ cùng cực của nghèo đói cả về thể chất lẫn tinh thần mà mỗi người nông dân khi ấy phải chịu đựng. Tác phẩm Vợ Nhặt được sinh ra một phần để lên án hành động tàn ác đã gây ra nạn đói kinh khủng năm 1945 của bọn phát xít, một phần chứng minh khát vọng sống và hạnh phúc của những con người lam lũ nơi đây. Và còn để chứng minh rằng, tại thời điểm này, Đảng chính là con đường duy nhất,là ánh sáng duy nhất có thể dẫn đường để giúp họ bước ra khỏi cái địa ngục trần thế này.

Tác phẩm được mở ra bằng những khung cảnh nghiệt ngã đang hiện hữu và đeo bám con người khi mà nạn đói tràn tới. Vào khoảng thời gian này, ra đường đạp trúng xác chết là chuyện bình thường, về nhà ngủ với ma cũng là chuyện thường ngày, mùi ẩm thối cũng như mùi không khí. Người chết nhiều vô kể, người sống thì cũng như đã chết, chỉ còn da bọc xương. Giữa cái khung cảnh đó,nhân vật Tràng xuất hiện như thứ dị vật bất thường, anh dắt về một cô vợ.


Đến ăn uống còn khó, chẳng ai trong cái cảnh này dám mơ tới chuyện cưới sinh nên xung quanh ai cũng lấy làm lạ. Đến lũ trẻ thường ngày hay chơi đùa với anh nay cũng chẳng dám đùa nữa vì nay trông anh người lớn quá. Cô vợ anh dắt về cũng chẳng xinh đẹp gì, tay thị cầm cái thúng, cúi mặt e thẹn ngại ngùng. Đến tới nhà thị vẫn thẹn,chỉ ngồi mép giường. Lần đầu trong đời người con trai tưởng như không thể kiếm được vợ này lại kiếm được cô vợ, Tràng vui hơn khi nào hết.

Nhưng thị hôm nay khác hôm trước. Hôm trước đó đùa đùa thấy thị ra giúp đẩy hí hửng lắm, sao nay nết na vậy. Có lẽ biết thân giờ là gái cho chồng nên làm duyên tí. Tràng với thị cũng lạ, ăn bốn chén bánh đúc rồi thị về làm vợ Tràng. Người ta nói chuyện yêu đương chỉ là một khắc nhưng chuyện duyên nợ là chuyện cả đời. Hai con người kết hôn với nhau là một hành động thiêng liêng cao quý, nhưng ở cái thời này có vẻ chỉ bằng vài chén bánh đúc. Cây bút của Kim Lân đã khiến cho cái thiêng liêng cao quý ấy trở nên rẻ mạc, bọt bèo theo một cách hóm hỉnh.

Khi mẹ Tràng về nhà, bà ngỡ ngàng, trong tâm hạnh phúc vì con bà đã kiếm được vợ. Nhưng cũng không thể không lo vì giờ nhà bà có thêm cái miệng ăn nữa. Nhà người ta cưới vợ lúc nhà mình làm ăn phát đạt, giàu có mới cưới, còn nhà bà lại có dâu ngay lúc cái đói tàn sát con người. Lo thì lo nhưng bà cũng nuốt lo hết xuống bụng để mừng cho con trai, vì cái hạnh phúc của đời nó. Sáng hôm sau đó là một ngày đặc biệt với Tràng, nhà Tràng nhìn đâu cũng lạ, rất sạch sẽ,ngăn nắp chứ không dơ như trước. Lần đầu Tràng thấy nhà anh sạch như vậy, nhìn có sức sống hơn nhiều. Cái không khí bốc mùi ẩm vẫn còn đó nhưng không hiểu sao lại rất ấm áp và hạnh phúc. Bữa sáng được dọn ra, một nồi cháo lõng thơm ngon, cả nhà ăn húp hì hà từng muỗng, chỉ cháo lõng thôi nhưng sao mà ấm lòng, rất hạnh phúc, rất ngon. Nhà ba người mỗi người mới hai ba chén đã hết sạch nồi cháo.  Nồi cháo cạn, cái vui vẻ ấm áp nãy giờ cũng muốn cạn theo. Bà cụ Tứ nhanh nhảu giải cứu tình hình, bà đem ra một nồi chè khoán. Cái vui vẻ của gia đình lại quay lại nhưng một chốc lại biến mất vì cái vị đắng chát. Ai cũng nhận ra vị này, là cám. Không khí lại u ám. Dù có hạnh phúc thật nhưng không thể quên cái thực tại, cái thực tại đói nghèo trước mắt. Tuy chúng ta đã được dạy rằng con người là loài động vật bật cao, có suy nghĩ, có tình cảm. Nhưng con người sau cùng vẫn là con, một con thú khi đói chúng sẽ gầm gừ ăn tất những thứ gì có thể xung quanh. Những con người này đáng ra đã phải như vậy, họ sống trong một thế giới mà bốn bề đều là những điều đen tối và khủng khiếp. Hỏi ai không khủng hoảng khi thấy cảnh tượng này, rất tàn khốc. Dù vậy, họ vẫn có thể vui vẻ khi mà họ không còn tí sức để vui vẻ, họ vẫn có thể yêu thương khi mà tâm hồn họ bị lấp đầy với những điều đen tối và khủng khiếp. Chính là nhờ những khát vọng sống, khát vọng được yêu, được hạnh phúc đã khiến họ trở nên phi thường.


Ở cuối tác phẩm, tác giả đã cao tay đưa hình ảnh Việt Minh phá kho thóc Nhật cứu đói cho dân. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng của Đảng như ánh sáng mặt trời xé nát cảnh quang u tối tại cái làng đó.Tràng hiểu ra, nếu muốn thoát khỏi cảnh này chỉ còn có cách đứng lên giành chính quyền, chỉ còn cách đi theo cách mạng, đi theo Đảng để cứu lấy chính mình và gia đình anh.

Từng nhân vật của tác phẩm đều là những con người đáng thương với khao khát được sống, khao khát có được hạnh phúc gia đình, và đó cũng chính là ước mơ của những con người là nạn nhân của nạn đói năm 1945. Từ khi có ánh sáng của Đảng dẫn lối, ước mơ của họ không còn là mơ nữa. Mỗi con người đều có quyền được sống và tồn tại, được hạnh phúc và yêu thương. Tác giả Kim Lân đã lên án tội ác của bọn phát xít một cách hoàn hảo bằng cách dựng lại rõ nét quan cảnh Việt Nam năm 1945 và bên cạnh đó cũng cho người đọc thấy được sự ảnh hưởng của ánh sáng Đảng mang lại cho người dân. 
( thị chỉ muốn làm duyên tí ~~!! )